Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

Người ngoài nói về nguy cơ mất nước của Việt Nam(*)

(*)Từng đọc khá nhiều bài viết của người Việt và bản thân cũng đã viết về cùng chủ đề , nhưng chủ blog tôi lại thấy như bi "thôi miên" bởi bài viết dưới đáy, có lẽ vì nó phản ánh một cách nhìn khách quan của "người ngoài cuộc" nên thấy rõ thế cờ hơn là người trong cuộc (?). Do xin mạn phép ả đưa lại bài viết này để có thêm người đọc (Bách Việt) 


                   Khi nào thành "phiên bang " mới thôi

Phòng học trên lầu 8 của Đại học Hoa Sen [ngày 9-9-2011] không đủ chỗ ngồi cho buổi tọa đàm về cuốn sách Nước Đại Nam đối diện với Pháp & Trung Hoa 1847-1885. Ts Bùi Trân Phượng, hiệu trưởng trường, đành thú nhận: “Không ngờ đề tài khô khan này lại thu hút người nghe hơn dự định.”
Tác giả cuốn sách, Gs Yoshiharu Tsuboi, trình bày những nhận định của ông không chỉ về cuốn sách mà còn liên hệ đến bối cảnh hôm nay của Việt Nam. Ông cho rằng dường như lịch sử Việt Nam hôm nay đang lặp lại hoàn cảnh như thời Tự Đức ở thế kỷ 19. Tự Đức là ông vua không gặp may, lên ngôi trong hoàn cảnh tao loạn, người dân không tin vào triều đình, còn triều đình cũng nhiều phe nhóm với mục đích và tham vọng cá nhân. Đất nước sau đó rơi vào tay người Pháp, mở đầu cuộc nô lệ cho thực dân kéo dài trăm năm. Gs Tsuboi nhấn mạnh “đất nước nào cũng thế, rất cần những người cầm quyền thật sự đặt lợi ích quốc gia cao hơn lợi ích cá nhân.” Bàn đến Trung Quốc, ông Tsuboi chỉ ra một điều không bất ngờ nhưng lại ít được Việt Nam chú ý. Ông thấy rằng Trung Quốc thường xuyên nghiên cứu về Việt Nam và nghiên cứu bằng một chiến lược lâu dài. Ông nhận định đúng. Riêng tôi nghĩ việc nghiên cứu ấy của Trung Quốc sẽ không chỉ diễn ra hôm nay mà còn kéo dài cho đến ngày họ thực hiện được cái tham vọng biến Việt Nam thành “phiên bang” của họ.
Cách đây 4 năm, khi xảy ra vấn đề Trung Quốc vẽ một số quần đảo của Việt Nam vào bản đồ của họ, thì cuộc biểu tình đầu tiên đã được khởi phát ở Việt Nam. Cuộc biểu tình bị dập tắt nhanh chóng, và những thái thú ngày ấy từ lầu cao của Lãnh sự quán tại Sài Gòn gật gù hài lòng. Cũng ngày ấy, không ít trí thức Việt sống ở nước ngoài thông tin như một nhắc nhở, cảnh báo: Nếu ta không nghiên cứu, nếu ta im lặng mãi khi Trung Quốc nhiều thập niên qua đã đưa sinh viên của họ đến nhiều trường Đại học nước ngoài để nghiên cứu, làm luận án về vấn đề biển Đông, ta không thể có tiếng nói khi đưa vấn đề ấy ra quốc tế. Dù muộn, nhưng vẫn cứ phải kêu lên cho thế giới biết ta có vấn đề đấu tranh này.”
Những lời nhắc nhở ấy, thật ra, đối với một số trí thức yêu nước trong nước thì không phải bất ngờ, vì lâu nay họ vẫn âm thầm nghiên cứu, tìm chứng liệu lịch sử để chứng minh chủ quyền hải đảo của quốc gia Việt Nam. Nhưng đa số người dân thì hoàn toàn mù mịt, bởi lẽ truyền thông và sách giáo khoa không bao giờ nhắc nhở hay đưa tin. Gs Tsuboi cũng nhận định rằng: “Dường như chưa bao giờ Trung Quốc mạnh như hôm nay trong lịch sử của họ. Còn Việt Nam chưa bao giờ yếu như bây giờ. Có nhiều vấn đề, nhưng cái quan trọng là nếu những cá nhân cầm nắm quốc gia không đặt lợi ích cá nhân xuống dưới lợi ích đất nước, thì e Việt Nam khó tìm được động lực phát triển. Điểm mạnh của các bạn là người Việt rất đoàn kết khi có chiến tranh, tuy rất ít đoàn kết trong thời bình.”
Thật đáng khâm phục, một nhà nghiên cứu người nước ngoài với những nhận định về đất nước mà ông nghiên cứu lịch sử của nó,chứng tỏ sự am hiểu không khác gì của một trí thức người Việt. Chỉ một băn khoăn sau đây của ông “Hình như chính phủ các bạn cũng chưa sử dụng hết nguồn nhân lực, trí thức của mình” khiến tôi cười chua chát và muốn thông tin cho ông bằng cách hài hước, chua chát vốn có của mình: “Riêng điều này thì xin trao đổi rằng ông không chính xác. Nguồn lực trí thức chúng tôi xài không thể hết nổi. Chúng tôi có ‘tiến sĩ’ đông như quân Nguyên đấy ạ.”
Cuốn sách ấy thì cứ để cho độc giả đọc và nhận định, bởi lẽ cách đọc lịch sử phải là cách đọc mà từ đấy mỗi người tự rút ra những nhân định riêng. Lịch sử mà đọc 100% giống hệt nhau thì đấy không phải là thái độ đọc lịch sử
Trung Quốc chưa từng từ bỏ việc nghiên cứu Việt Nam một cách có chiến lược, để làm gì? Vì sao? Có lẽ câu trả lời không khó.
Cứ nhìn chính sách của họ đối với Việt Nam hôm nay, kiểu “hôn má bên này, bật máu má bên kia” [thơ Nguyễn Duy], thì câu trả lời hoàn toàn không khó.
Và đấy là điều cực kỳ quan trọng mà cá nhân người viết tiếp nhận sau buổi tọa đàm.
Phòng học trên lầu 8 của Đại học Hoa Sen [ngày 9-9-2011] không đủ chỗ ngồi cho buổi tọa đàm về cuốn sách Nước Đại Nam đối diện với Pháp & Trung Hoa 1847-1885. Ts Bùi Trân Phượng, hiệu trưởng trường, đành thú nhận: “Không ngờ đề tài khô khan này lại thu hút người nghe hơn dự định.”
Tác giả cuốn sách, Gs Yoshiharu Tsuboi, trình bày những nhận định của ông không chỉ về cuốn sách mà còn liên hệ đến bối cảnh hôm nay của Việt Nam. Ông cho rằng dường như lịch sử Việt Nam hôm nay đang lặp lại hoàn cảnh như thời Tự Đức ở thế kỷ 19. Tự Đức là ông vua không gặp may, lên ngôi trong hoàn cảnh tao loạn, người dân không tin vào triều đình, còn triều đình cũng nhiều phe nhóm với mục đích và tham vọng cá nhân. Đất nước sau đó rơi vào tay người Pháp, mở đầu cuộc nô lệ cho thực dân kéo dài trăm năm. Gs Tsuboi nhấn mạnh “đất nước nào cũng thế, rất cần những người cầm quyền thật sự đặt lợi ích quốc gia cao hơn lợi ích cá nhân.” Bàn đến Trung Quốc, ông Tsuboi chỉ ra một điều không bất ngờ nhưng lại ít được Việt Nam chú ý. Ông thấy rằng Trung Quốc thường xuyên nghiên cứu về Việt Nam và nghiên cứu bằng một chiến lược lâu dài. Ông nhận định đúng. Riêng tôi nghĩ việc nghiên cứu ấy của Trung Quốc sẽ không chỉ diễn ra hôm nay mà còn kéo dài cho đến ngày họ thực hiện được cái tham vọng biến Việt Nam thành “phiên bang” của họ.
Cách đây 4 năm, khi xảy ra vấn đề Trung Quốc vẽ một số quần đảo của Việt Nam vào bản đồ của họ, thì cuộc biểu tình đầu tiên đã được khởi phát ở Việt Nam. Cuộc biểu tình bị dập tắt nhanh chóng, và những thái thú ngày ấy từ lầu cao của Lãnh sự quán tại Sài Gòn gật gù hài lòng. Cũng ngày ấy, không ít trí thức Việt sống ở nước ngoài thông tin như một nhắc nhở, cảnh báo: Nếu ta không nghiên cứu, nếu ta im lặng mãi khi Trung Quốc nhiều thập niên qua đã đưa sinh viên của họ đến nhiều trường Đại học nước ngoài để nghiên cứu, làm luận án về vấn đề biển Đông, ta không thể có tiếng nói khi đưa vấn đề ấy ra quốc tế. Dù muộn, nhưng vẫn cứ phải kêu lên cho thế giới biết ta có vấn đề đấu tranh này.”
Những lời nhắc nhở ấy, thật ra, đối với một số trí thức yêu nước trong nước thì không phải bất ngờ, vì lâu nay họ vẫn âm thầm nghiên cứu, tìm chứng liệu lịch sử để chứng minh chủ quyền hải đảo của quốc gia Việt Nam. Nhưng đa số người dân thì hoàn toàn mù mịt, bởi lẽ truyền thông và sách giáo khoa không bao giờ nhắc nhở hay đưa tin. Gs Tsuboi cũng nhận định rằng: “Dường như chưa bao giờ Trung Quốc mạnh như hôm nay trong lịch sử của họ. Còn Việt Nam chưa bao giờ yếu như bây giờ. Có nhiều vấn đề, nhưng cái quan trọng là nếu những cá nhân cầm nắm quốc gia không đặt lợi ích cá nhân xuống dưới lợi ích đất nước, thì e Việt Nam khó tìm được động lực phát triển. Điểm mạnh của các bạn là người Việt rất đoàn kết khi có chiến tranh, tuy rất ít đoàn kết trong thời bình.”
Thật đáng khâm phục, một nhà nghiên cứu người nước ngoài với những nhận định về đất nước mà ông nghiên cứu lịch sử của nó,chứng tỏ sự am hiểu không khác gì của một trí thức người Việt. Chỉ một băn khoăn sau đây của ông “Hình như chính phủ các bạn cũng chưa sử dụng hết nguồn nhân lực, trí thức của mình” khiến tôi cười chua chát và muốn thông tin cho ông bằng cách hài hước, chua chát vốn có của mình: “Riêng điều này thì xin trao đổi rằng ông không chính xác. Nguồn lực trí thức chúng tôi xài không thể hết nổi. Chúng tôi có ‘tiến sĩ’ đông như quân Nguyên đấy ạ.”
Cuốn sách ấy thì cứ để cho độc giả đọc và nhận định, bởi lẽ cách đọc lịch sử phải là cách đọc mà từ đấy mỗi người tự rút ra những nhân định riêng. Lịch sử mà đọc 100% giống hệt nhau thì đấy không phải là thái độ đọc lịch sử
Trung Quốc chưa từng từ bỏ việc nghiên cứu Việt Nam một cách có chiến lược, để làm gì? Vì sao? Có lẽ câu trả lời không khó.
Cứ nhìn chính sách của họ đối với Việt Nam hôm nay, kiểu “hôn má bên này, bật máu má bên kia” [thơ Nguyễn Duy], thì câu trả lời hoàn toàn không khó.
Và đấy là điều cực kỳ quan trọng mà cá nhân người viết tiếp nhận sau buổi tọa đàm.

Tiền Vệ
(Nguồn: Blog Người Buôn gió)

 Đăng bởi Blog Bách Việt

Vì sao TQ mềm mỏng hơn với láng giềng?

Nguồn: BBC Tiếng Vt trên internet - Cập nhật: 14:49 GMT - thứ hai, 12 tháng 9, 2011

Bắc Kinh đã gửi nhà ngoại giao hàng đầu sang Hà Nội gần đây.
Báo Bưu điện Hoa Nam Buổi Sáng ngày 12/09 có bài với tiêu đề "Bắc Kinh tỏ lập trường mềm mỏng hơn với các nước láng giềng". BBC trích lược vài nét chính để độc giả tham khảo về góc nhìn của một số chuyên gia Trung Quốc sau chuyến thăm Việt Nam của Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc, ông Đới Bỉnh Quốc.
Những nỗ lực ngoại giao gần đây để cải thiện quan hệ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, vốn bị ảnh hưởng do tranh chấp trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), cho thấy Bắc Kinh đang có cách tiếp cận hòa giải hơn để giải quyết căng thẳng.

Quan hệ ngoại giao và quân sự với Việt Nam và Philippines được củng cố thông qua một loạt các chuyến thăm cấp cao trong hai tuần qua.
Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Tổng thống Philippines Benigno Aquino đã gặp vào ngày 31 tháng 8 tại Bắc Kinh và tái khẳng định cam kết để giải quyết một cách hòa bình lãnh thổ tranh chấp trong vùng Biển Đông.
Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt vào ngày 29 tháng 8 đã gặp Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh để mở đường cho một chuyến thăm Trung Quốc vào năm nay của tân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Và tuần trước, nhà ngoại giao hàng đầu của Trung Quốc, Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc đã đến Hà Nội gặp Phó Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân.
Cả hai ông đã đồng chủ trì một phiên họp về quan hệ song phương và thảo luận các vấn đề chiến lược và quan trọng.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Triều Húc cho biết Bắc Kinh sẽ làm việc với Hà Nội để giữ mối quan hệ song phương đi đúng hướng.

Thiếu tướng đã nghỉ hưu Từ Quang Vũ của Quân Giải phóng Nhân dân, cho biết rằng Bắc Kinh sẽ không để cho mối quan hệ với Việt Nam và Philippines xấu đi.
'Bên thứ ba'
"Nếu Bắc Kinh quá lớn tiếng thì sẽ đe dọa các nước nhỏ hơn và đẩy các nước này tìm sự giúp đỡ từ Hoa Kỳ"
Trương Minh Lượng, Đại học Tế Nam, Quảng Châu
"Mặc dù có một loạt các cuộc biểu tình chống Trung Quốc và tồn tại thái độ chống Trung Quốc ở Việt Nam và Philippines trong vòng ba tháng qua, Bắc Kinh nhận ra rằng bất kỳ cuộc xung đột với các nước láng giềng sẽ không chỉ gây tổn hại cho an ninh khu vực, mà cũng sẽ làm tổn thương phát triển kinh tế của chúng ta, và điều đó sẽ chỉ đem lại lợi ích cho bên thứ ba," ông Vũ nói tuy từ chối đề cập bên thứ ba là nước nào.

Trong khi đó học giả Vương Hàn Lĩnh, một chuyên gia về vấn đề hàng hải và luật quốc tế tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc ở Bắc Kinh, cho biết "bên thứ ba" là Hoa Kỳ.

"Hoa Kỳ đã có mặt ở đó; Hoa Kỳ chưa bao giờ rời châu Á", Giáo sư Vương nói.

Đã có hơn 10 cuộc biểu tình chống TQ tại Hà Nội.
"Bắc Kinh biết điều này rất rõ và nhận ra rằng Washington sẽ sử dụng các tranh chấp Nam Hải để ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

"Nhưng Trung Quốc cũng nhận ra rằng, khi xét tới sự ổn định của Đông Nam Á với lợi ích kinh tế chung giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, tranh chấp lãnh thổ tại Nam Hải không phải là vấn đề lớn ".

Ông Vương cho biết ưu tiên hàng đầu của Bắc Kinh sẽ là duy trì tốt mối quan hệ với tất cả các nước láng giềng liên quan tới tranh chấp biển, bởi vấn đề phức tạp không thể được giải quyết về ngắn hạn.

"Căng thẳng trong tranh chấp tại Biển Nam Trung Hoa nên được kiểm soát, không được phép leo thang, vì sẽ chỉ gây tổn hại cho sự phát triển kinh tế và an ninh khu vực Đông Nam Á," ông nói.
"Bắc Kinh cũng nhắc nhở các nước các nước láng giềng là chúng ta có cùng một văn hoá và lịch sử, đặc biệt là ở chỗ tất cả chúng ta đều bị các nước phương Tây xâm chiếm trong thế kỷ qua."
Ông Vương cho biết Trung Quốc đã đề nghị Việt Nam, Philippines và những người khác thực hiện các biện pháp để ngăn chặn khả năng tranh chấp biển leo thang.
'Không thể cắt quan hệ'
Tiến sĩ Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Đại học Tế Nam ở Quảng Châu, cho biết Bắc Kinh phải giữ mối quan hệ tốt về ngoại giao và quân sự với Hà Nội và Hà Nội, đặc biệt là trong thời điểm nhạy cảm như khi có cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam gần đây do "Vai trò đáng xấu hổ" của Trung Quốc trong tranh chấp tại Biển Nam Trung Hoa.

"Không giống như quan hệ Trung-Mỹ, vốn bị đình chỉ nhiều lần trong hai thập niên qua, chúng ta có thể không dễ dàng cắt quan hệ với Việt Nam và Philippines ", ông Trương nói.

Trung Quốc lo ngại VN gần hơn với Hoa Kỳ
"Khi so với Việt Nam và Philippines, Trung Quốc là quá lớn. Nếu Bắc Kinh quá lớn tiếng (về tranh chấp biển), Trung Quốc sẽ đe dọa các nước nhỏ hơn và đẩy các nước này tìm sự giúp đỡ từ Hoa Kỳ. "

Lấy ví dụ về việc tàu hải quân Mỹ đến Cam Ranh lần đầu tiên trong 38 năm, quan hệ Việt-Mỹ dường như đang được tăng cường.
Hai nước hồi tháng trước đã ký một tuyên bố về ý định phát triển quan hệ quân y.
"Thật dễ dàng để Việt Nam đứng về phía Hoa Kỳ vì Washington là quá quan trọng đối với Hà Nội," ông Trương nói.

Ông cũng chỉ ra rằng mậu dịch Trung-Việt đạt 30 tỷ USD vào năm ngoái, nhưng 90% là đồ Trung Quốc xuất sang Việt Nam, tạo thâm hụt mậu dịch lớn cho Hà Nội.

"Tuy nhiên, Hoa Kỳ có thể cung cấp cho Việt Nam nhiều sản phẩm công nghệ cao và công nghệ, và Trung Quốc không có khả năng làm điều đó," ông cho biết.
Ông Trương có nhiều Việt Kiều Mỹ gửi tiền về nước và có thể giúp người nhà ở Việt Nam mua nhiều sản phẩm công nghệ cao từ Hoa Kỳ.

"Đó là lý do tại sao Bắc Kinh nên giữ mối quan hệ tốt với Hà Nội để ngăn Việt Nam xích quá gần tới Hoa Kỳ," ông Trương nói.


--------------

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

Biển Đông: Lời nguyền đối với Trung Quốc

                                                                                
Một trong những chủ đề quan tâm hàng đầu  của thế giới hiện nay là sự trỗi dậy của Trung Quốc - đất nước chỉ trong vòng 3 thập kỷ đã chuyển mình từ một nước nghèo đói thành “cường quốc số hai” thế giới.  

Nếu trong thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 nhân loại còn chút hoài nghi về khả năng phát triển của nước này thì vào cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 21 đã phải ngạc nhiên với tâm trạng buồn vui lẫn lộn, thậm chí lo lắng nhận ra rằng sự phát triển của nó dường như đang gây ra những mối tai họa... Đó là nạn “hàng nhái” và “hàng có độc tố” đang thâm nhập vào mọi ngõ ngách của thị trường trên thế giới; đó là dòng người di cư Trung Quốc ồ ạt tràn vào mọi châu lục; đó là nạn khai thác tài nguyên bừa bãi mang tên “Chinese projects” tại các nước đang phát triển Á-Phi-Mỹ la tinh; đó là hiện tượng “vô trách nhiệm” của nước này trước những vấn nạn toàn cầu; và đó là thái độ hiếu chiến sẵn sàng sử dụng bạo lực để giải quyết tranh chấp biển đảo với các nước láng giềng…Thực tế nói trên khiến dư luận quốc tế đang chuyển từ kỳ vọng sang thất vọng về vai trò của cường quốc đang trỗi dậy này. 

Bài viết ngắn này chỉ xin tập trung bàn về mối đe dọa của Trung Quốc liên quan đến cuộc tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, qua đó gợi lên đôi điều về cách ứng xử cần thiết của các nước liên quan, trong đó có Việt Nam.   

Tư tưởng bành trướng bá quyền vẫn còn đó 
Ở Trung Quốc và Phương Đông, tên người hoặc địa danh thường gắn với một ý nghĩa mà người đặt ra nó mong đợi. Đó cũng là trường hợp của tên nước “Trung Quốc”-  nó có nghĩa là nước nằm ở trung tâm (của vũ trụ). Một số tài liệu lịch sử cho rằng tên Trung Quốc đã có từ trước CN, nhưng chỉ thật sự trở nên phổ biến từ thời Nhà Hán (206 TCN - 220 SCN) khi mà tư tưởng đại Hán hình thành và phát triển với chủ thuyết tự cho mình là trung tâm của vũ trụ trong khi các dân tộc khác xung quanh là “thiên hạ” man, di, mọi, rợ!  Cách tư duy này rõ rằng đã và đang là động lực giúp đất nước này không ngừng bành trướng lãnh thổ Nhà Hạ bé nhỏ trở thành nước Trung Hoa với diện tích gần 10 triệu km2 và  hơn 1,3 tỷ người. Tư tưởng Đại Hán  ăn sâu bám rễ trong tiềm thức ngưởi Trung Hoa đến ngày nay và là một trong những nhân tố tạo nên sự khác biệt giữa họ và các dân tộc khác dù ở bất cứ nơi nào họ có mặt.   

Khi các đế chế Âu Châu từng vượt đại dương xâm lược các châu lục khác cách xa chính quốc hàng vạn dặm thì các chế độ phong kiến Trung Quốc trong nhiều ngàn năm chỉ kiên trì mở mang bờ cõi bằng biện pháp chiến tranh thôn tính các nước lân bang .  Đặc điểm này khiến Trung Quốc hầu như không có quan hệ láng giềng bình đẳng và thân thiện với các nước kế cận. Điều này được thấy  trong mọi thời kỳ lịch sử của Trung Quốc, điễn hình là các thời “xuân thu chiến quốc”và “tam quốc”; sau này là cuộc “viện Triều chống Mỹ”, rồi các cuộc chiến tranh hoặc xung đột biên giới với  Ấn Độ, Liên Xô (cũ) và Việt Nam, v.v…. Do không có quan hệ láng giềng thân thiện thật sự và lâu dài nên các thời đại cầm quyền Trung Quốc thường phải duy trì hình thức các “vùng đệm” hoặc "nước đệm" như Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan, Bắc Việt Nam trước đây và Bắc Triều Tiên hiện nay, hoặc phải xây Vạn Lý Trường Thành ở phía Bắc,  nhằm bảo vệ vùng Trung Nguyên.

Về  phương cách phát triển, lịch sử cho thấy hầu hết các triều đại phong kiến Trung Quốc đều chủ trương “hướng nội”, coi thường quan hệ với “ngoại biên”, thậm chí chủ trương “bài ngoại” đã trở thành quốc sách. Điều này thể hiện rất rõ cho đến thời Nhà Thanh và cả thời thời kỳ dài sau cách mạng 1949. Trong khi  các đế chế  Âu châu từng ra sức khai phá các vùng đất xa bằng đường biển thì vương triều chỉ tập trung bành trướng lãnh thổ bằng biện pháp đánh nống ra các vùng đất kế cận. Đó là lý do tại sao Trung Quốc chỉ nỗi tiếng với “con đường tơ lụa” mà không có kỳ tích gì trong lĩnh vực hàng hải viễn dương, ngoại trừ những dòng người tha hương vượt biển trốn chạy khỏi điều kiện khốn khổ vốn là một hiện tượng thường xuyên của nước này.     

Những đặc điểm và đặc thù nêu trên ít nhiều có thể giúp ta tìm lời đáp về cách hành xử của người Trung Quốc trong các vấn đề quốc tế hiện đại. Trong vấn đề Biển Đông, mặc dù chưa bao giờ thực sự chiếm giữ trong quá khứ xa xưa và không hề có bằng chứng nào, Trung Quốc vẫn lớn tiếng tuyên bố và hành động ngang ngược với cái gọi là “lợi ích cốt lõi” đối với toàn bộ Biển Đông, kể cả những vùng   vốn đã nằm trong lãnh hải và đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven bờ. Đáng lẽ ra, nếu do nhu cầu phát triển, họ chỉ có thể đàm phán hòa bình với các nước láng giềng và các nước khác có lợi ích hàng hải liên quan,  nhưng Bắc Kinh  lại lựa chọn phương cách đối đầu với tất cả theo kiểu “được ăn cả, ngã về không”. Họ dường như không muốn chia sẻ mà chỉ muốn độc chiếm Biển Đông với bất cứ giá nào. Đó là gì nếu không phải là sự tiếp nối của lối tư duy bá quyền Đại Hán trong quá khứ? Một lần nữa các chiến lược gia bành trướng lại dựng ra cái gọi là "quyền chủ quyền dựa trên chứng cứ lịch sử" đối với đảo và biển tại những nơi mà cách đây không lâu chính họ đã khước từ vì sợ bị lưu lụy (như vụ tàu của Anh quốc kêu cứu tại Hoàng Sa giữa thế kỷ 19, và đã không hề phản bác gì trước quyết đinh của Hội nghị San Francisco 1946, v.v...)    
       
Bế tắc về mô hình nhà nước  
Nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa (CHNDTH) ra đời sau cách mạng 1949. Lực lưong nòng cốt của cuộc cách mạng đó là giai cấp nông dân. Tuy nhiên sau nửa thế kỷ tồn tại , dù dưới tên gọi và hình thức gì thì nông dân vẫn bị thống trị. Như có đề cập ở phần trên, những thành tựu kinh tế Trung Quốc gần đây không phải là nhờ kết quả của việc giải phóng giai cấp công-nông theo lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản và XHCN mà là nhờ trào lưu kinh tế thế giới. Do đó càng phát triển kinh tế đất nước này càng lún sâu vào mâu thuẩn giai cấp vốn có của nó. Đó là nguyên nhân sâu xa tại sao nước này vẫn loay hoai với cái gọi là "CNXH mang màu sắc TQ". 

Đây là một vấn đề lý luận phức tạp nên xin phép không đi sâu. Nhưng có thể nhận thấy trong lúc chờ đợi, người Trung Quốc giờ đây dường như đang lặp lại phương thức phát triển của chủ nghĩa tư bản thời đế quốc thực dân mà đặc trưng là xâm lược và khai thác tài nguyên của nước khác. Có thể đó là xuất phát từ “ảo giác” của họ do cảm thấy bị chậm chân và thua thiệt so với các cường quốc đi trước, đồng thời được khích lệ bởi những thành tựu kinh tế của chính mình trong thời kỳ phát triển nóng gần đây? Ảo giác này có thể khiến họ lựa chọn một chủ trương chính sách sai lầm nhưng ngỡ tưởng là đúng (?). 
  
Không ít người nghi ngờ về sức mạnh thực sự của Trung Quốc ngày nay. Còn nhớ chỉ hơn một thập kỷ về trước, thế giới đã từng coi Trung Quốc là một nước đông dân nhưng không mạnh, giống như  “con hỗ giấy” hay “người khổng lồ trên chân đất sét”. Những thành quả phát triển gần đây chủ yếu là nhờ sự trùng hợp giữa  trào lưu cải cách kinh tế trong nước diễn ra trong sự cộng hưởng của xu thế toàn cầu hóa, mà trong đó, so với hầu hết các nước đang phát triển khác,  Trung Quốc dù sao cũng có lợi thế hơn về trình độ công nghệ, ý thức tổ chức kỷ luật và cơ sở hạ tầng, mạng lưới Hoa kiều nổi tiếng với tài kinh doanh buôn bán lẻ,v.v...  để tiếp thu và phát huy các tiến bộ khoa học và công nghệ mới của nhân loại. Đó hoàn toàn chưa phải là sức mạnh để trở thành một cường quốc thực sự! Mặc khác, sự phát triển muộn mằn, nhất là của một nước quá đông dân đang đặt ra những thách thức không hề nhỏ.  Khác với trường hợp Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước có tầm vóc nhỏ hơn đã phấn đấu trở thành NIC (new industrial countries) bằng cách dựa (tầm gửi) vào một vài “đầu tàu” kinh tế của thế giới như Mỹ, EU,…thì giờ đây Trung Quốc không thể làm như vậy, một phần vì tình trạng cạn kiệt  năng lượng, một phần vì tầm cỡ bản thân quá lớn để dựa dẫm vào một “đầu tàu” nào đó.  Giới chuyên gia quốc tế đã chỉ ra những hạn chế có thể ảnh hưởng đến sự phát triển dài hạn của đất nước khổng lồ này, đó là sự thiếu vắng một nền tảng xã hội dân chủ cùng với những mâu thuẩn sắc tộc, vùng miền và khoảng cách giàu-nghèo, thành thị-nông thôn, nguy cơ thiếu nguyên, nhiên liệu và thị trường tiêu thụ…

Phải chăng những đặc điểm nêu trên đang đặt ra  áp lực buộc “cường quốc muộn mằn” này phải bằng mọi cách khắc phục, kể cả dùng vũ lực?

Không ai có thể bác bỏ những lý do chính đáng khiến Trung Quốc phải vươn ra bên ngoài để tìm kiếm nguồn nguyên nhiên liệu và thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, vươn ra như thế nào bằng phương cách nào là vấn đề hoàn toàn khác, nhất là trong bối cảnh thế giới ngày nay  đã được “thể chế hóa” cao độ trên cơ sở đảm bảo quyền bình đẳng và công bằng giữa mọi quốc gia dân tộc dù lớn hay nhỏ. Nếu như trước đây tư bản Anh, Pháp Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, v.v… đã lợi dụng thế mạnh hàng hải để chinh phục các miền “đất hứa”, vơ vét tài nguyên thiên nhiên đem về xây dựng chính quốc, thì ngày nay cách làm như vậy hoàn toàn không còn phù hợp nữa và cũng không thể chấp nhận đối với tầm nhận thức của con người hiện đại.

Có lẽ do nhận biết trước điều này mà  bản thân nhà lãnh đạo  Đặng Tiểu Bình đã đưa ra ý kiến chỉ đạo gồm hai vế: “trỗi dậy hòa bình” và “ẩn mình” (tức là vừa phải biết tranh thủ môi trường hòa bình để phát triển, nhưng cũng phải biết kiên trì chờ đợi thời cơ chín mùi, không được nôn nóng, trong việc thực hiện mục tiêu bá chủ thế giới). Tuy nhiên căn cứ vào những gì  các thế hệ lãnh đạo sau ông đang thể hiện, có thể thấy họ đang tỏ ra nóng vội và không tuân thủ điều mà ông Đặng đã chỉ huấn, hoặc đơn giản chỉ vì họ không thể chờ đợi lâu hơn (?) Có thể đó là lý do tại sao những người lãnh đạo Trung Quốc giờ đây lại nóng lòng áp dụng cách thức của  chủ nghĩa thực dân cũ, không chỉ đối với các địa bàn xa  như Châu Phi, Mỹ la tinh, mà cả các vùng lân cận  từ Trung Á, Viễn đông và Siberi của Nga mà cả khu vực kế cận đầy nhậy cảm là Đông Á và Đông Nam Á.

Tham vọng cường quốc viễn dương    
Là một cường quốc bắt đầu muộn mằn, với vị thế bất lợi mà họ luôn bị ám là bị bao vây bốn mặt, giới lãnh đạo nước này luôn nung nấu ý chí phá thế bao vây đó bằng cách vưon ra biển lớn. Vươn ra phía Đông thì vướng Mỹ , Nhật, Hà Quốc...nên họ chọn vương về hướng Nam như một lựa chọn duy nhất. Vẫn với lối mòn tư duy bá chủ, lần này họ lại tự cho mình cái quyền chọn Biển Đông làm “sân nhà” để vừa độc chiếm nguồn dầu khí và tài nguyên được cho là rất dồi dào tại đây, đồng thời khống chế tuyến đường huyết mạnh ra thế giới. Đó là “động cơ kép” chi phối toàn bộ cách hành xử của Bắc Kinh như ta thấy gần đây tại khu vực Biển Đông. Lựa chọn này cũng cho thấy "CNXH mang màu sắc Trung Quốc" đang nối gót chân của Trung hoa Dân quốc - kẻ đã vẻ ra "đường chín đoạn" tại Biển Đông từ 1939 trước khi bi đẩy ra Đài Loan.  Ngày nay tuy biết rõ những gì đã họ đang làm là phi đạo lý, nhưng Bắc Kinh vẫn chọn thái độ kiên quyết không nhượng bộ, thậm chí sẵn sàng “chơi rắn” một cách trắng trợn và hung bạo bằng cách công bố đường 9 đoạn và tuyên bố đó là “lợi ích cốt lõi” đồng thời cố tình tạo ra thế tranh chấp ngay bên trong lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của các nước ven bờ khác. Họ thực sự đang hành động như kẻ "vừa cướp vừa la làng". 

Hành động đó vừa là sự tính toán kỹ kưỡng từ trước, vừa là biểu hiện của trạng thái nôn nóng không thể chờ đợi. Phía Trung Quốc một mặt kiên quyết  bác bỏ biện pháp thương lượng đa phương đồng thời xúc tiến những biện pháp vũ lực! Bắc Kinh cũng đã và đang vội vã nâng cấp lực lượng hải quân với hàng không mẫu hạm, tàu ngầm, tàu sân bay..., đặc biệt đã hoàn tất căn cứ hải quân lớn nhất nước tại đảo Hải Nam. Thực ra  họ đã có âm mưu độc chiếm Biển Đông từ nhiều năm trước với sự tiếp nối của hàng loạt hành động xâm lấn bằng vũ lực đối với quần đảo Hoàng Sa từ tay Chính quyền miền Nam Việt Nam năm 1974 và sau đó đối với một số đảo và bãi đá  từ tay nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Trường Sa.  Từ không đến có, họ muốn tạo ra thế “cài răng lược” giữa Biển Đông để hỗ trợ cho đồi hỏi chủ quyền về lâu về dài.

Trên mặt trận ngoại giao, phía Trung Quốc không nề hà áp dụng mọi thủ đoạn từ việc chia rẽ nội bộ ASEAN  đến việc bịa đặt và xuyên tạc sự thật lịch sử. Họ rêu rao có đủ bằng chứng lịch sử về chủ quyền đối với Biển Đông cách đây 2000 năm nhưng lại không dám đưa vấn đề ra tòa án quốc tế. Họ kiên quyết bác bỏ cái gọi là “quốc tế hóa” vấn đề tranh chấp và chỉ muốn giải quyết song phương với từng nước để hưởng lợi thế của kẻ mạnh; họ kêu gọi giải quyết hòa bình nhưng lại dùng lực lượng và số đông tàu thuyền để lấn lướt và chiếm cứ từng vị trí trên biển với từng nước riêng biệt.

Lực bất tòng tâm   
Trong thế giới tự nhiên loài voi, bò tót, linh dương và trâu bò đều to hơn sư tử nhưng chúng không bao giờ được giữ vai trò là “chúa tể sơn lâm”. Trong thế giới loài người cũng vậy, Trung Quốc từ cổ chí kim chưa bao giờ đựơc coi là “cường quốc số một”, và  nếu tiếp tục như vậy trong tương lai cũng là một lẽ đương nhiên.

Kể từ đầu năm 2011 nền kinh tế Trung Quốc đã được chính thức xếp hạng hai thay chỗ của Nhật Bản, tuy nhiên khoản cách với Mỹ vẫn còn rất xa. Trong những năm gần đây giữa bối cảnh kinh tế Mỹ và EU rơi sâu vào khủng hoảng, một nước Trung Quốc có thể duy trì liên tục đà tăng trưởng với tốc độ trên dưới 10%  đã tạo nên niềm kỳ vọng  đuổi kịp và vượt Mỹ…. Nhưng nếu nhìn lại toàn bộ cơ cấu phân bố dân cư và vùng kinh tế và xem xét những vấn đề nội tại của nước Trung Quốc sẽ cho thấy nước này chưa hội đủ mọi yếu tố cần thiết để trở thành  “đầu tàu” đích thực đối với kinh tế thế giới. Trái lại nhiều việc làm của Trung Quốc đang xâm hại lợi ích kinh tế của các nước khác, đặc biệt tác động tiêu cực đối với môi trường và sức khỏe  của nhân loại.

Xét về thế địa chính trị, Trung Quốc thiếu hẵn những điều kiện cần thiết để tận hưởng mọi nguồn lực và thị trường của thế giới. Nói cách khác, Trung Quốc đã “chậm chân” hơn các nước đế quốc thực dân trong việc chiếm hửu và khai thác các nguồn lực, nhất là nếu vẫn chỉ sử dụng lại các phương thức xâm chiếm đất đai biển đảo và khai thác tài nguyên của nước khác để mang về làm giàu cho chính quốc.

Có thể nói, giờ đây việc lựa chọn phương thức phát triển nào là một thách thức lớn nhất đối với Trung Quốc. Cái khó có lẽ ở chỗ người Trung Quốc chưa sẵn sàng cởi bỏ tư tưởng bá chủ Đại Hán và thói quen tôn sùng bạo lực vốn đã là động lực xây đắp nên nước Trung Hoa xưa nay. Chính trên nền của lối tư duy đó,  người Trung Quốc một lần nữa tỏ ra coi thường dư luận quốc tế, điều mà sớm muộn sẽ làm suy sụp hoàn tòan hình ảnh “trỗi dậy hòa bình” khó nhọc lắm mới vừa hình thành. Trong trường hợp Biển Đông, người Trung Quốc giờ đây buộc phải lựa chọn giữa  mưu đồ bành trướng và bá chủ bằng hành động quân sự trắng trợn, hay chủ trương hợp tác phát triển trong hòa bình với các nước láng giềng.  Họ cần nhận thức rõ ràng rằng cách hành xử dựa trên sức mạnh một cách hung bạo không chỉ đe dọa nghiêm trọng các nước láng giềng mà còn đe dọa nền hòa bình, an ninh khu vực và thế giới, trong đó có lợi ích của các cường quốc khác như Mỹ, Nhật, Nga và hàng loạt các nước liên quan, những nước chắc chắn không khoanh tay đứng nhìn.
Mặc khác,  việc  sử dụng những  thủ đoạn dối trá và những tiểu xảo mang màu sắc Trung Hoa cũng cho thế giới thấy nước lớn này chưa đủ tầm của một cường quốc.  Mới đây  Ngoại trưởng Albert del Rosario của Philipin than vãn rằng “Làm sao mà bạn có thể thảo luận được điều gì trong khuôn khổ song phương, khi bạn ngồi vào bàn đàm phán với Trung Quốc thì họ nói rằng tất cả là của họ". Nhiều nhà quan sát quốc tế  cho rằng Bắc Kinh thường viện dẫn Công ước UNCLO, nhưng trên thực tế họ có nhiều động thái bị đánh giá là không đếm xỉa gì đến văn kiện mà chính họ đã phê chuẩn.

Tóm lại, bằng cách tự vẽ ra đường chín đoạn và đòi chủ quyền bao trùm 85% diện tích của Biển Đông, Trung Quốc không chỉ gây xung đột với các nước láng giềng và tình trạng mất ổn định trong khu vực mà còn chuốc lấy thế khó cho bản thân về lâu dài. Chừng nào chưa từ bỏ tham vọng"lưỡi bò" thì chừng đó Trung Quốc còn bị thế giới lên án, các nước láng giềng bất bất an bất bình sẽ không hợp tác. Đó là trỡ ngại nguy hại hơn nhiều đối với sự phát triển trước mắt và lâu dài , thậm chí có thể rơi vào nguy cơ đổ vỡ trước khi có thể phát triển và trở thành một cường quốc thật sự. Đây chắc chắn không phải là nguyện vọng của nhân dân Trung Quốc. Đó là yếu điểm cơ bản mà Việt Nam và các nước ASEAN cần nắm lấy để quyết đấu với thế lực bành trướng bá quyền Bắc Kinh  /. 
  

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

Mặt trái của sự phát triển nhanh của Trung Quốc

Phóng sự kinh hoàng tại Hàn Quốc

Trong chương trình “Sự thật trần trụi - chân tướng của viên nang ‘thịt người’”, hình ảnh phóng viên SBS đến Trung Quốc, theo dõi và phát hiện một số bệnh viện Trung Quốc bán và chế biến thai chết lưu thành viên nang “thịt người” và một số loại viên nang kinh hoàng có giá khá đắt này đã được người Hàn Quốc sử dụng do được quảng cáo là có tác dụng thần kỳ.
                                                                                              ... và móng, tóc tay người
Phóng sự trích dẫn cho biết loại viên nang này chủ yếu được chuyển sang Hàn Quốc qua những người  dân tộc Triều Tiên (người gốc Triều Tiên có thể nói được tiếng Hàn, nhưng giờ là một trong số người dân tộc thiếu số của Trung Quốc)  sống chủ yếu tại Cát Lâm, Liêu Ninh và Hắc Long Giang - Trung Quốc. 
Để chứng minh được tính chính xác của phóng sự, các phóng viên sau đó đã đưa những viên nang này đến xét nghiệm tại văn phòng Hải quan Quốc gia và viện điều tra khoa học ở Hàn Quốc.
Kết quả cho thấy, chúng có ADN trùng khớp đến 99,7% với cơ thể con người. Các nhà khoa học thậm chí còn trích ra được các mẫu móng tay, tóc trong viên nang và xác định được cả giới tính của đứa bé. 
 
                                                
                                                                    Tóc và mẩu móng tay tìm thấy trong bột thuốc được phóng đại
Trung Quốc mở cuộc điều tra khẩn cấp
Bộ Y tế Trung Quốc đã ngay lập tức mở một cuộc điều tra khẩn cấp và bày tỏ sự phản đối nếu việc làm này là có thật. Ông Đặng Hải Hoa (Deng Hai Hua), phát ngôn viên của Bộ Y tế Trung Quốc nhấn mạnh: “Chúng tôi đã yêu cầu Sở Y tế và các cơ quan hành chính khẩn trương điều tra sự việc. Trung Quốc có những quy định nghiêm ngặt về xử lý thi thể của trẻ sơ sinh, bào thai và nhau thai. Chúng tôi cũng kiên quyết phản đối việc buôn bán nội tạng hoặc các bộ phận cơ thể con người”.
Theo thông tin điều tra mới nhất, chuyên gia của sở y tế  khu tự trị dân tộc Triều Tiên- tỉnh Cát Lâm xác nhận với phóng viên báo Tin tức kinh tế hàng ngày (Trung Quốc) rằng: các nhân viên sở y tế của tỉnh Cát Lâm đang tiến hành điều tra khu biên giới, hiện vẫn chưa có kết quả. Tuy nhiên, dựa vào kết quả tình hình điều tra hiện tại thì cơ bản đã bài trừ “viên nang thịt người” được sản xuất ở vùng biên giới, thậm chí là không phải sản xuất ở vùng Cát Lâm như đài truyền hình SBS đã đăng tải mà có thể được sản xuất ở một vùng khác.
Ở một số forum của Trung Quốc, rất nhiều độc giả phản ánh là sau khi xem xong chương trình phóng sự “viên nang thịt người” của Hàn quốc, họ đều nhìn thấy có biển số xe của tỉnh Sơn Đông. Tuy nhiên đối với việc “viên nang thịt người” có được sản xuất ở Sơn Đông hay không thì đến giờ vẫn chưa được nhân viên điều tra xác nhận chính thức.
Hiện tại Bộ Y tế Trung Quốc đang gấp rút điều tra sự kiện này, hi vọng sẽ sớm có kết quả hợp lý để “trấn an” dư luận và công chúng.
Dương Hằng
Tổng hợp từ xinhua, sohu, 163, cctv
Phát hiện móng tay, tóc trong viên nang (viên thuốc con nhện hay Capsule) có chưá “thịt người”.
(Dân trí) - Bộ Y tế Trung Quốc đã gấp rút mở cuộc điều tra sau khi đài truyền hình SBS-Hàn Quốc đưa tin nước này đang nhập từ Trung Quốc 1 loại thuốc làm từ nhau thai, thai chết lưu… và kết quả xét nghiệm cho thấy có tóc và móng tay trong viên nang.
 >>>  Nhau thai khô mua dễ như... rau
Ngày 8/8, “Thời báo Hoàn Cầu" và một số tờ báo nổi tiếng của Trung Quốc đưa tin một số người Hàn Quốc đang lo lắng về thực phẩm chức năng có nguồn gốc Trung Quốc. Trước đó 2 ngày, đài truyền hình SBS - một trong 3 đài truyền hình lớn nhất Hàn Quốc đã phát đi phóng sự gây rúng động xã hội và gọi viên thuốc được sản xuất từ thai chết lưu, nhau thai... là “viên nang thịt người”. Loại thuốc này được cho là có nguồn gốc từ tỉnh Cát Lâm - Trung Quốc.
                                             
                                                 Viên nang chứa chất bột có ADN trùng 99,7% ADN người 





*****

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

Khi còn "bao cấp" lòng yêu nước

Hôm nay Tết Độc lập,  bước ra phố thấy rừng cờ đỏ sao vàng, vừa vui vừa buồn khi chợt nghĩ : Chẳng lẽ những lá cờ cắm bên phố  khác với  những lá cờ trên tay của người biểu tình bảo vệ chủ quyền biển đảo...? 

Có đấy! có sự khác nhau đến mức "nghịch lý". Không biết trên thế giới này có nhân dân nước nào bị cấm cầm cờ tổ quốc đi biểu tình chống xâm lược nước ngoài? Và có người đại diện nhà nước nào  trong đàm phán lại cam kết với phía đối phương sẽ đảm bảo ngăn chặn biểu tình của nhân dân nước mình....để đổi lấy hòa bình?  

Thì ra,  sau bài học quý báu thu được từ việc xóa bỏ chế độ bao cấp trong lĩnh vực kinh tế hồi cuối thế kỷ trước, giờ đây ở nước ta vẫn chưa chịu rút ra bài học về tai  hại của chế độ bao cấp đối với lòng yêu nước! Có những vị cứ tự cho mình cái quyền được nói thay nhân dân trong phạm trù lòng yêu nước! Không những thế họ dường như có xu hướng nói năng một cách tự do, thoải mái đến mức sai cả đường lối của Đảng và Hiến pháp! Đó là trường hợp mới đây một vị  Gám đốc của  Học viện chính trị quan trọng nhất nước đã nói sai quan điểm ....khiến  dư luận bức xúc chê bai...; tiếp đến Đài PT-TH Hà Nội "đánh đồng" các nhân sĩ trí thức tham gia biểu tình yêu nước là "lực lượng phản động"! Mới đây một vị  tướng lĩnh khi đàm phán với phía Trung Quốc  nói: " Nhân dân Việt Nam không bao giờ  nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền " khiến bàn dân thiên hạ phân vân:  liệu có sự nhượng bộ "có nguyên tắc" nào đó không?... Một vị lãnh đạo cap cấp hơn khi tiếp xúc cử tri Hà Nội mới đây liên quan vấn đề chủ quyền biển đảo có nói úp mở :"...có những cái ta không nói ra nhưng vẫn làm" khiến dư luận không khỏi phân vân về sự minh bạch và mức độ "tùy tiện" của dường lối chính sách. Còn không ít những trường hợp "nói nghiụ" như thế. 

Ôi, thật đáng buồn (nhưng không đáng cười một tí nào)! Không hiểu sao, ngày càng có nhiều trường hợp phát ngôn, nói năng thiếu chuẩn mực từ phía giới lãnh đạo đất nước, trong khi người dân luôn được "uốn nắn" từng li từng tí trong mọi cử chỉ hành động yêu nước của họ? Âu đây cũng là một nghịch lý của đất nước này, và mong sao nó sẽ sớm được chấm dứt!      



Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Bạn có nghĩ Trung Quốc đã thành công trong âm mưu chia rẽ Việt Nam và Philipine?

Với tiêu đề "Việt-Trung cam kết giải quyết tranh chấp trên Biển Đông thông qua đàm phán" Báo Tuổi trẻ hôm nay 30/9/2011 đưa tin:

Theo tin Tân Hoa Xã và Mạng Chính phủ Trung Quốc, ngày 29-8 tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh tham dự diễn đàn thảo luận an ninh quốc phòng lần thứ năm giữa Bộ quốc phòng hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã hội kiến với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt.
Hai bên đã cam kết giải quyết tranh chấp trên Biển Đông thông qua tham vấn và đàm phán.
Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt khẳng định: "Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với Việt Nam để bảo vệ những lợi ích chiến lược chung của hai nước và mối quan hệ toàn diện cũng như hòa bình và ổn định trên Biển Đông thông qua việc tăng cường trao đổi thông tin và tham vấn".
Về phần mình, Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Việt Nam coi trọng việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, bày tỏ hy vọng tiếp tục tăng cường hợp tác trao đổi thông tin cũng như hợp tác trên mọi lĩnh vực giữa hai nước và quân đội hai nước để bảo vệ hòa bình và an ninh trong khu vực.

Báo này cũng cho hay: Hôm nay Tổng thống Philipine B. Aquino  đã dẫn đầu mọt phái đoàn cấp cao trong đó có 300 doanh nhân của nước này trong chuyến thăm kéo dài 5 ngày đến Trung Quốc.

Trọng tâm của chuyến thăm là tăng cường quan hệ thương mại giữa hai nước với những thỏa thuận ước đạt tổng giá trị 7 tỷ USD và dự kiến sẽ thu hút khoảng 50 tỷ USD đầu tư của Trung Quốc vào Philipine.
Đồng thời trước đó cũng đã có tin nói  Chính phủ Philippines vừa trấn an người dân rằng nước này sẽ đạt “lợi ích tương xứng với Trung Quốc” trong dự án cùng thăm dò dầu khí tại khu vực tranh chấp thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Đài truyền hình GMA News dẫn lời phát ngôn viên Phủ Tổng thống Edwin Lacierda cho hay hai bên còn phải thảo luận thêm nhưng nhấn mạnh kế hoạch này sẽ không “xâm phạm quyền lợi của Philippines”.
Trước đó, Thứ trưởng Bộ Công thương Philippines Cristino Panlilio cho hay Manila và Bắc Kinh đồng ý lập một liên doanh giữa các công ty dầu khí của hai bên để thăm dò dầu khí ở biển Đông. Ông Panlilio khẳng định phía Trung Quốc sẽ “tuân thủ luật pháp Philippines” khi hoạt động ở Trường Sa.
Tuy nhiên, động thái này của hai bên rõ ràng vi phạm chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.
Theo ông Panlilio, dự án hợp tác trên là một phần trong Chương trình phát triển Trung Quốc - Philippines sẽ được ký trong chuyến thăm Bắc Kinh từ ngày 30.8 - 3.9 của Tổng thống Benigno Aquino III. Tân Hoa xã đưa tin chuyến công du Trung Quốc của ông Aquino nhằm tăng cường quan hệ chính trị, kinh tế và văn hóa dù hai bên có những bất đồng về tranh chấp trên biển.
Chính phủ Philippines vừa trấn an người dân rằng nước này sẽ đạt “lợi ích tương xứng với Trung Quốc” trong dự án cùng thăm dò dầu khí tại khu vực tranh chấp thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
--------------
*****

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

Tài liệu của Bộ Ngoại giao Trung Quốc viện dẫn điều không phải là sự thật lịch sử!

Mới đây Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã cho xuất bản một loạt bài viết của một số tác giả với chủ đề "Việt Nam: Câu chuyện không thể không nói", trong đó trình bày về lịch sử quan hệ Trung-Việt từ cổ chí kim...(*) Có lẽ đây là một cử chỉ mới cho thấy phía Trung Quốc bắt đầu muốn công khai về một chủ đề lâu nay vẫn được coi là "nhậy cảm" (?). Tuy nhiên, nói đi thì phải nói lai, có rất nhiều điều không phải là sự thật lịch sử đã được tài liệu viện dẫn nhằm phục vụ những mục đích muôn thuở của chủ nghĩa bành trướng .
Ai cũng biết có rất nhiều điều khuất tất trong cổ sử liên quan đến cội nguồn dân tộc và quan hệ giữa hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam mà lý do chính là trong suốt 1.000 năm "Bắc thuộc", các triều đai phong kiến Trung Quốc đã "đốt sạch, phá sạch" mọi tài liệu lịch sử của Việt tộc. Sang thời kỳ "hậu Bắc thuộc" người Việt không có cách nào khác là phải dựa vào sử sách Trung Quốc để viết lại lịch sử của mình. Do đó không thể tránh khỏi những sai lệch, thậm chí còn "khoảng trống" chưa tìm thấy sự thật. Để giải mã những "góc khuất" lịch sử như nói trên sẽ còn là một con đường rất dài. Tuy nhiên, nhờ những tiến bộ trong ngành hoa học lịch sử của nhân loại, ngày nay những sự thật lịch sử đang dần hé lộ. Trên cơ sở đó, người viết bài này xin có một vài nhận xét sơ bộ về tài liệu của Bộ Ngoại giao Trung Quốc như sau.
Trong bài viết của tác giả Tôn Hồng Niên (**) có nói rằng "Từ thời cổ đại Trung Quốc đã có truyền thuyết Thần Nông, kể rằng phạm vi thiên hạ mà Thần Nông cai quản phía Nam đến Giao Chỉ, các đời vua Nghiêu, Thuấn, Vũ đều đã tuần thú đến Giao Chỉ”... Đây là một cách vận dụng truyền thuyết tùy tiện bất chấp sự thật lịch sử .
Ta hãy bắt đầu bằng tấm bản đồ của Wikipedia, trong đó mô tả cương vực thời Nhà Hạ của Trung Quốc (tương đương thời Kinh Dương Vương trong sử Việt Nam) chỉ bằng hạt đậu hay một giọt dầu mà thôi !



Cũng chính sách sử Trung Quóc cho thấy, phải mất hàng ngàn năm sau đó người Hán mới xâm lấn xuống phía nam...thì làm sao có chuyện Nghiêu, Thuấn, Vũ "tuần thú đến Giao Chỉ"? Chẳng lẽ giọt dầu kia  đã bổng dưng lan tỏa một cách hòa bình xuống khắp miền đất trồng lúa nước  phía Nam sông Dương Tử vào thời kỳ mà ở đó đã là "đất có chủ"  được chính sử Trung Quốc gọi là "của người Bách Việt ở Phương Nam"(tức là nhiều bộ tộc hoặc vương quốc Việt tộc đã định cư tại đây ít nhất là cùng thời với Hán tộc ở phía Bắc)?  Nếu có thể truy xét lại cái "truyền thuyết" trên đây ắt sẽ biết nó đã được "viết lại" từ thời nào và "tài" bóp méo sự thật lịch sử của chủ nghĩa đại Hán như thế nào. Có thể thời gian đã xóa mờ dấu tích  những vó ngựa của quân xâm lược,  nhưng những dấu ấn nhân văn vẫn còn đó bất chấp mọi thủ đoạn đồng hóa vô cùng nham hiểm và độc ác của kẻ thống trị suốt hàng ngàn năm trước và sau CN. Ông Niên "vận dụng" truyền thuyết của mình như thế, nhưng lại xuyên tạc về truyền thuyết của người Việt đồng thời cố tình tránh né không nói gì về "chủ thể gốc đích thực" của vùng đất phương Nam  cùng với nền văn minh lúa nước và những di chỉ khảo cổ như Trống Đồng, Riều đá, Việt ngữ... vốn đã được thế giới công nhận là của Bách Việt , trong đó có Lạc Việt và Âu Việt cũng tức là nước Văn Lang, rồi Nam Việt và Việt Nam ngày nay. Ngay cả truyền thuyết Thần Nông và môn phái Kinh Dịch cũng đang được giới sử gia quốc tế bàn cải  liệu có phải là  của  Hán tộc hay của Việt tộc (!?). Tài liệu này không đề cập gì về quá trình các triều đại phong kiến Trung Quốc đã  xâm lấn và dồn đẩy Việt tộc xuống phía Nam như thế nào.  Thiết nghĩ cũng nên  trích ra đây môt tấm bản   đồ khác trong đó mô tả cương vực của nước Nam Việt đến năm 111 trước Công nguyên bao gồm cả tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Đảo Hải Nam và Bắc Việt Nam ngày nay(***). Đó là cách nhìn lịch sử khách quan của giới sử gia quốc tế. Đây là một phần sự thật không chỉ cho thấy sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam mà còn là bằng một chứng hùng hồn bác bỏ cái gọi là "chủ quyền từ thời thượng cổ..."  đối với Biển Đông mà phía Trung Quốc đang ra sức ngụy tạo trước thế giới. Tài liệu nói trên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc  cũng phớt lờ những yếu tố và giá trị nhân văn của Việt tộc vốn đã song hành cùng Hán tộc trong thời kỳ tiền sử nhưng chẳng qua đã bị kẻ đô hộ tráo đổi hoặc tước đoạt trong quá trình thực hiện mưu đồ đồng hóa vô cùng thâm độc của chúng. Những giá trị nhân văn của Việt tộc đã thực sự ảnh hưởng và thấm đẩm trong  nền văn hóa Trung Hoa ngày nay và vẫn còn tiếp tục hiện diện  tại nhiều vùng phía Nam và Đông Nam Trung Quốc bất chấp những biện pháp đồng hóa của chính quyền trung ương. Đó là lý do đích thực của tình trạng giống nhau hay "tương đồng" mà ai cũng thấy giữa hai dân tộc. Sự trường tồn của dân tộc Việt Nam với bản sắc riêng của mình sau 1.000 năm Bắc thuộc là một minh chứng hùng hồn  (nếu biết rằng  đối với một số dân tộc khác trên thế giới chỉ bị ngoại bang đô hộ vài trăm năm  có thể đã trở thành "vong quốc").  Tuy nhiên bài viết của ông Niên đã không đánh giá đúng thực chất của sự giao thoa của hai nền văn minh Hán -Việt, lại còn chê người Việt Nam không có chữ viết.... nên phải sử dụng chữ viết và sách sử của Trung Quốc (!?); lại nhận vơ rằng dân tộc Hán (vốn chỉ có thảo nguyên) lại có thể đến để dạy người Việt trồng lúa nước (!?) v.v... và v.v... Thử hỏi, Người Việt Nam có thể làm gì hơn dưới ách đô hộ hà khắc với mưu đồ đồng hóa độc ác  suốt hàng ngàn năm của bọn thống trị Phương bắc, khi mà chỉ có kẻ đô hộ mới có quyền viết lại lịch sử? Nếu người Hán đã không may bị rợ Hung Nô đô hộ 1.000 năm thì đến nay còn có thể làm được gì? Hãy đừng lấy cái bất hạnh của người khác làm "cái hay", "cái tốt" cho bản thân mình. Đó có thể là cách hành xử mà người Trung Quốc cần phải học thêm!
Về thời kỳ từ sau cách mạng giải phóng dân tộc, rất tiếc tài liệu của Bộ Ngoại giao Trung Quốc  vẫn nhìn vấn đề theo quan điểm của thời "vương triều"... vẫn tiếp tục coi Việt Nam là "tông-phiên" và mong đợi sự quy phục, "triều cống"  từ nước láng giềng nhỏ yếu này (?) . Đó là quan điểm cực kỳ lỗi thời và không thể chấp nhận được ! Tài liệu không chỉ lòng vòng kể lễ về công lao "khai sáng" nước Việt trong thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc mà  còn đòi hỏi các thế hệ người Việt Nam ngày nay phải luôn hàm ơn đối với thời "cách mạng Trung Quốc" mặc dù cả hai bên thừa biết rằng mọi sự giúp đỡ hay viện trợ của Trung Quốc trong thời kỳ này trước hết đều xuất phát từ  lợi ích của bản thân Trung Quốc! Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thừa biết đã ra sức kèm chế  cách mạng Việt Nam như thế nào trong các thời kỳ khác nhau , đặc biệt đã "bán đứng" lợi ích của nhân dân Việt Nam như thế nào trong quá trình đàm phán Trung - Mỹ năm 1972,  và bằng việc này, đã tạo điều kiện để họ đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 (lúc đó đang do chính quyền Sài Gòn kiểm soát), rồi chống phá Việt Nam ở hai ngã biên giới Tây Nam và phía Bắc những năm sau đó.... Nói cách khác ,  chính Trung Quốc là bên được hưởng lợi nhiều nhất từ sự hy sinh xương máu của người Việt Nam. 
Còn  nhiều câu chuyện "thâm cung bí sử" và ân oán  mà nhân dân cả hai nước Việt, Trung chắc đều biết nhưng thấy chưa tiện nói ra mà thôi!   Thiết nghĩ, đã không nói đến thì thôi, khi đã nói thì  phải nói cho đầy đủ và đúng sự thật. Mong rằng các nhà sử học chân chính và nhân dân hai nước và quốc tế hãy lên tiếng, coi đây là một việc làm thiết thực để góp phần giải quyết thấu đáo cuộc tranh chấp Biển Đông và  góp phần giữ gìn hòa bình khu vực và thế giới về lâu dài!

Chú thích:
 (*)Tham khảo tin của TTXVN đưa lại nguồn: Tạp chí “Tri thức thế giới” dưới quyền chủ quản của Bộ Ngoại giao Trung Quốc số 14 ra ngày 16/7/2011.
(**) Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu sử địa biên giới, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc. 
(***)Quyển "Shadow of the Dragon:Vietnam‘s Continuing Struggle with China and the Implicationsfor U.S. Foreign Policy" của Henry J. Kenny, Washington: Brassey‘s, 2002.


Trần Kinh Nghị
                                            




Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này